Dương Hội và Triệu Thanh chào đón Lê Lô rất nồng hậu. Mấy chị em trò chuyện rôm rả, nhanh chóng sắp xếp xong chỗ ở cho những ngày tới. Vốn có cảm tình với Lê Lô, lại thêm bản tính nhiệt thành nên khi được ở chung, Dương Hội càng quý mến và thân thiết gọi cô là “em gái”.
Lê Lô không hề thấy khó chịu, ngược lại càng tin vào mắt nhìn người của Trần Tịnh Thực, rằng người anh đánh giá tốt sẽ dễ chung sống với mình.
Sắp xếp hành lý xong, Dương Hội đưa cho Lê Lô cả mớ đồ ăn vặt, rồi lân la hỏi về mối quan hệ giữa cô và Trần Tịnh Thực. Cô ấy và anh em trong nhóm đã quen Trần Tịnh Thực gần ba năm, nhưng chưa từng thấy anh thân thiết với cô gái nào ngoài nhóm, huống hồ lại là người hoàn toàn xa lạ.
Lê Lô rất muốn nói mình hâm mộ Trần Tịnh Thực, nhưng dù không quá rành chuyện đời, cô biết làm vậy có thể gây phiền phức không đáng có cho anh. Vì thế, cô kể lại chuyện mình từng dự buổi giảng của anh rồi đi xem mắt cùng Dư Tư, lược bỏ hết những đoạn lằng nhằng và rắc rối tình cảm.
Qua lời kể của Lê Lô, Dương Hội và Triệu Thanh nghĩ cô và Trần Tịnh Thực quen biết tình cờ.
Dương Hội nghe xong không giấu được vẻ thất vọng: “Chà, cứ tưởng anh Trần cuối cùng cũng biết yêu, bắt đầu theo đuổi con gái rồi chứ, không ngờ…”
Ánh mắt cô ấy dừng lại trên gương mặt Lê Lô, trông đầy tiếc nuối: “Em gái dễ thương thế này, bắt về nhà làm bạn gái tốt biết mấy.”
Lê Lô đang uống dở chai Yakult do Triệu Thanh đưa, nghe vậy bèn bật cười, nụ cười vừa thoáng nét e thẹn, lại vừa tinh nghịch.
Cô rất muốn nói với Dương Hội đừng lo, nếu Trần Tịnh Thực không bắt cô đi, cô có thể chủ động bắt anh về, rốt cuộc kết quả vẫn như nhau, còn quá trình thì không quan trọng!
Do thời gian eo hẹp, ngày đầu tiên nhóm nghiên cứu không sắp xếp công việc, chủ yếu để mọi người ổn định chỗ ở và kiểm tra trang thiết bị. Trước bữa tối, cả nhóm họp nhanh tại hiện trường chuẩn bị cho sáng hôm sau khi đợt khảo sát chính thức bắt đầu.
Có lẽ do lạ giường, đêm đó Lê Lô ngủ không ngon giấc. Dương Hội và Triệu Thanh rất quan tâm, chủ động nhường giường dưới cho cô. Nhưng Lê Lô không nỡ nhận, sau một hồi đùn đẩy, cuối cùng vẫn leo lên giường trên. Có lẽ vì lâu không có người nằm, cộng thêm không khí ở lâm trường khá ẩm nên tấm đệm bông tỏa mùi ẩm mốc. Lê Lô vốn không chịu được mùi này, nên cả đêm tự nhủ cố chịu đựng mãi mới chợp mắt được.
Dù vậy, hôm sau cô vẫn thức dậy đúng giờ, thay đồ thể thao ra ngoài chạy bộ.
Trong khuôn viên trạm lâm trường có sân thể thao với đường chạy đơn giản. Nghe nói trước đây đường chạy rải xỉ than, gần đây mới được trải nhựa tổng hợp. Lê Lô thử nhún chân trên mặt đường, cảm giác như giẫm trên bông vậy. Cô khởi động vài động tác rồi bắt đầu chạy.
Không khí trong lành ở đây khác xa thành phố, khiến Lê Lô càng chạy càng hăng. Ban đầu chỉ định chạy hai cây số, cuối cùng cô chạy một mạch bốn cây, gấp đôi quãng đường dự định.
Lê Lô vừa vui vừa thấm mệt, định đặt mông xuống lề để nghỉ thì nghe có người gọi mình.
“Tiểu Lê!”
Lê Lô ngơ ngác quay đầu lại, trông thấy Trần Tịnh Thực và Mã Uyên.
“Anh Trần?” Cô khựng lại, rồi định thần, mỉm cười vẫy tay với anh.
Trần Tịnh Thực và Mã Uyên mặc trang phục dã ngoại tối màu, đang đi từ ngoài vào sân. Trông họ như vậy, chẳng lẽ đã vào rừng từ sáng sớm?
“Dậy sớm chạy bộ à?” Trần Tịnh Thực nhìn trang phục của cô rồi hỏi.
Lê Lô “vâng” một tiếng: “Tối qua đi ăn với chị Dương, em thấy có sân thể thao nên dậy sớm qua chạy thử, nghĩ chắc sẽ thích lắm.”
“Tối qua ngủ không ngon à?” Trần Tịnh Thực quan sát cô một lát rồi hỏi.
Lê Lô: “… Đàn anh sao lại biết?” Cô vốn không định than thở chuyện này.
“Nhìn mắt em là biết.” Trần Tịnh Thực đáp. Làn da cô vốn trắng nên chút mệt mỏi hiện lên rất rõ.
Lê Lô cười ngượng.
“Cũng ổn ạ.” Cô nói: “Chỉ là hơi…” Lê Lô ngập ngừng một chút rồi quyết định nói thật: “Hơi nhiều muỗi.”
Tối qua trong phòng có đốt nhang muỗi, nhưng cơ địa cô rất thu hút muỗi, dù che chắn kỹ đến đâu cũng bị đốt mấy nốt. Lũ muỗi vo ve bên tai cô suốt đêm, đó là một trong những nguyên nhân cô ngủ không sâu giấc.
Trần Tịnh Thực cũng để ý “chiến tích” lũ muỗi trên người cô – một nốt đỏ nhỏ trên má, trông khá ngộ nghĩnh, anh không nén được cười khe khẽ rồi nói: “Anh có cái màn, tối nay mang cho em.”
Ôi! Anh có cả món này ư, Lê Lô phục anh thật sự.
“Cảm ơn anh.”
Ba người vừa đi vừa trò chuyện, tiến vào tòa nhà của trạm lâm trường. Quả nhiên họ đã vào rừng từ sáng. Hóa ra tiếng ngáy của bạn cùng phòng làm họ thức giấc, không tài nào ngủ lại được nên đành dậy đi dạo.
Lê Lô thầm so sánh hoàn cảnh hai bên, bất chợt thấy mình may mắn hơn nhiều vì còn được ở phòng ba người. Phòng của Trần Tịnh Thực là phòng sáu người có giường tầng, chẳng có ưu tiên đặc biệt nào.
Đang trò chuyện cùng Trần Tịnh Thực, Lê Lô thoáng thấy Mã Uyên thỉnh thoảng lại nhìn về phía mình, bèn cất tiếng chào trước: “Anh Mã Uyên, lần này anh cũng tham gia ạ.” Thực ra từ bữa cơm tối qua cô đã trông thấy anh ấy, chỉ là chưa có dịp nào thích hợp để chào hỏi.
Mã Uyên cười có phần bối rối. Phải mất một lúc, dường như lấy hết can đảm, anh ấy mới hỏi cô: “Tiểu Lê, sao lần này không thấy Tiểu Dư đi cùng, em ấy có việc bận à?”
À, thì ra là anh ấy muốn hỏi chuyện Dư Tư. Lê Lô giải thích: “Điền Điền vốn định đi thực tập, nhưng khoảng nửa tháng trước cậu ấy đột ngột quyết định thi cao học, nên đã ở lại trường ôn tập.”
“Vậy à.” Mã Uyên khẽ thở ra, rồi lại hỏi: “Sao em ấy lại đột nhiên muốn thi cao học thế?”
Thật ra quyết định này không hẳn là bất chợt. Dư Tư vốn luôn ngưỡng mộ những trường đại học hàng đầu, hơn nữa sau thời gian dài sống cạnh sinh viên Đại học Yên Thành, khao khát ấy trong lòng cô ấy càng thêm mãnh liệt. Chỉ có điều thi đỗ cao học Đại học Yên Thành chưa bao giờ là chuyện dễ dàng, nên Dư Tư vẫn luôn do dự, thậm chí từng định từ bỏ để đi thực tập cùng cô. Nhưng rồi không hiểu sao cuối cùng cô ấy lại quyết tâm thi tiếp.
Lê Lô không rõ trong đó có sự tác động của Mã Uyên hay không, vì cô biết họ chưa hề cắt đứt liên lạc, dù kể từ sau lần xem mắt đó, hình như họ chưa từng gặp lại.
“Lâu nay anh Mã và Điền Điền nói chuyện thế nào ạ?” Lê Lô bất chợt ghé sát lại, tò mò hỏi.
Mã Uyên ngẩn ra, mặt càng thêm đỏ. Anh ấy cụp mắt, không dám nhìn thẳng vào Lê Lô, đáp: “Cũng ổn, vẫn trò chuyện liên tục. Nhưng em ấy không nói với anh về chuyện thi cao học.”
“Thật ra anh có thể hẹn cậu ấy ra ngoài chơi mà.” Lê Lô ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Chuyện thi cao học cậu ấy còn đang rối lắm, anh là người đi trước, có thể cho cậu ấy vài lời khuyên.”
“Thi cao học ư?” Mã Uyên ngơ ngác: “Cái này anh cũng không rành lắm, anh được tuyển thẳng lên cao học mà…”
Chuyện này… ngay cả Tiểu Bồ Tát Lê Lô cũng phải thở dài bất lực. Cô liếc nhìn Trần Tịnh Thực như muốn hỏi: “Anh ấy còn cứu được không?”
Trần Tịnh Thực vốn cũng đang lo thay cho Mã Uyên, nên khi bắt gặp biểu cảm của Lê Lô, anh bất giác thấy hơi buồn cười. Anh liếc cô ra hiệu cứ bình tĩnh, rồi quay sang nói với Mã Uyên: “Tiểu Lê muốn em nhân cơ hội này hẹn Tiểu Dư ra ngoài. Hai em đã trò chuyện qua mạng một thời gian, muốn mối quan hệ tiến triển sâu hơn thì vẫn phải gặp gỡ.”
Người ta thường nói, gặp mặt dễ tỏ bày, thiện cảm thêm đong đầy. Nghe vậy, Mã Uyên cuối cùng cũng hiểu ra, mặt càng thêm ngượng ngùng: “Cảm ơn Tiểu Lê.”
Nói xong, Mã Uyên gãi đầu, viện cớ có việc rồi nhanh chóng rời đi.
Lê Lô mỉm cười nhìn theo bóng lưng anh ấy. Khi thu tầm mắt lại, cô quay sang Trần Tịnh Thực nói: “Anh Trần, em thấy mình thật may mắn vì người em thích là anh.”
Nói dứt lời, cô thở phào nhẹ nhõm.
Trần Tịnh Thực… có chút cạn lời. Dù cũng là dân khoa học tự nhiên khô khan, Trần Tịnh Thực vẫn nhận ra Mã Uyên là đầu gỗ trong chuyện tình cảm, hay nói đúng hơn là quá nhút nhát. Được khen kiểu dìm hàng cậu đàn em thế này chẳng mang lại cho Trần Tịnh Thực chút cảm giác thành tựu nào. Thậm chí, nếu không phải đã hiểu Lê Lô, có lẽ anh đã nghi ngờ cô đang nói kháy mình.
“Tiểu Lê.” Anh hắng giọng, cố giữ bình tĩnh nhắc nhở: “Căng tin mở cửa rồi, chúng ta đi ăn thôi.”
Sau bữa sáng, mọi người nhanh chóng tắm rửa, thay trang phục, chuẩn bị bắt đầu một ngày làm việc mới.
Mãi đến lúc này, Lê Lô mới thấu hiểu ý nghĩa thực sự trong câu nói “không nhất thiết phải chạy đôn chạy đáo” của Trần Tịnh Thực. Quả thật việc thu thập dữ liệu ngoài thực địa đòi hỏi cả một quá trình. Dù sự sinh trưởng và xuất hiện của các loài động thực vật tuân theo quy luật, nhưng để có cái nhìn toàn diện về tình trạng sinh tồn của chúng trong khu vực này, cần phải có thời gian và cả một chút may mắn.
Chỉ dựa vào nhân lực vài chục thành viên thì không thể lật tung cả ngọn núi rộng hơn 9000 héc-ta được, phần lớn vẫn phải trông cậy vào các thiết bị. Do đó việc lắp đặt máy ảnh hồng ngoại mới là nhiệm vụ hàng đầu của nhóm nghiên cứu lần này, chứ không phải “bắt tay vào làm ngay” như Lê Lô vẫn hình dung.
Những thiết bị này sẽ thay thế đôi mắt con người, trở thành trạm quan sát dài hạn ghi lại khoảnh khắc sinh động trong vùng đất xanh tươi này. Còn họ, những nhà nghiên cứu, sẽ dùng dữ liệu thu thập được để tiến hành phân tích sâu hơn.
Sau khi hiểu ra những điều này, ngoài việc cảm thán trước sự tiến bộ của kỹ thuật nghiên cứu hiện đại, Lê Lô còn thắc mắc: nếu phần lớn dữ liệu do máy ảnh hồng ngoại thu thập, vậy công việc của họ chẳng phải nhẹ nhàng hơn rất nhiều sao? Tại sao vẫn cần ở lại đây lâu đến vậy?
Tiến sĩ động vật học Dương Hội giải đáp thắc mắc của cô bằng vài chữ: “Không đơn giản như vậy đâu.”
Việc bố trí máy ảnh hồng ngoại ở đâu là cả một nghệ thuật. Mục đích đặt những vệ sĩ đỏ nhỏ bé này là để ghi lại hình ảnh động vật trong lâm trường, từ đó hiểu được tình trạng sinh tồn của chúng. Vì vậy điều quan trọng nhất cần nắm rõ là nơi chúng có khả năng xuất hiện cao nhất.
Vấn đề này với người ngoài như Lê Lô có lẽ khá nan giải, nhưng với những người có kinh nghiệm thực địa và kiến thức chuyên sâu thì lại là chuyện nhỏ.
Nguyên lý rất dễ hiểu: hễ tồn tại thì ắt sẽ để lại dấu vết, ví dụ dấu chân, hang ổ, phân, hay dấu vết do gặm nhấm, đấu đá…
Ngay từ cuộc điều tra gấu trúc đầu tiên của Trung Quốc (thường được gọi vui là điều tra mèo) (*), các nhà khoa học đã ước tính số lượng quần thể thông qua phân tích phân của chúng. Phương pháp này được kế thừa đến nay và áp dụng trên nhiều loài động vật quý hiếm khác.
(*) Trong tiếng Trung, gấu trúc được gọi là “đại hùng miêu” (大熊猫 – gấu mèo lớn).
Đồng thời hệ sinh thái trên mỗi vùng đất được cấu thành theo mô hình kim tự tháp: đáy tháp là đất đai và nguồn nước, phía trên lần lượt là các tầng thực vật, côn trùng, chim chóc và loài gặm nhấm… Càng lên đỉnh tháp, các loài càng quý hiếm.
Những sinh vật này gắn kết với nhau tạo nên chuỗi sinh thái và mạng lưới thức ăn hoàn chỉnh. Sự hiện diện của một loài ăn thịt cỡ lớn chứng tỏ có quần thể sinh vật bên dưới rất dồi dào, đủ làm nguồn thức ăn cho chúng. Ở tầng thấp hơn nữa có chuỗi thức ăn khác nuôi sống quần thể ấy.
Cứ thế, tầng này nối tiếp tầng kia, bản đồ sinh thái toàn diện của khu vực dần được dựng lên. Dựa vào quy luật mắt xích, họ có thể suy luận ngược lên hoặc xuôi xuống tìm ra manh mối về sự tồn tại của các loài khác.
Trong mười phút trước giờ khởi hành, Dương Hội đã kịp kể sơ cho Lê Lô những điểm chính, khiến cô thầm thán phục sự kỳ diệu của thiên nhiên và sự vĩ đại của khoa học.
Bình luận về Chương 8
BÌNH LUẬN